PHẠM TƯƠNG NHƯ: Người hát thơ từ những cánh đồng mây.

Print Email

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive


       Không gian được nhìn thấy như là cánh đồng mây bất tận và thời gian từ ngàn xưa vẫn được xem như là chỗ trú thân bất biến của thi ca Bác Học hoặc Bình Dân.
       Thi Ca Bác Học sẽ tồn tại, nếu chữ sâu ý nặng đủ sức trôû thành thông điệp có ý nghĩa về những khía cạnh trong cuộc đời vốn không bình thường như tình yêu, tình người, chiến tranh hòa bình…có tác động trực tiếp đến tinh thần của mọi người và nó sẽ trở thành một triết lý sống, được chuyên chở bằng cổ xe vững chãi khởi đi từ quá khứ qua hiện tại và vươn tới tương lai hoàn toàn không bị khống chế bởi thời gian.

       Thi Ca Bình Dân thì ngược lại, nó luôn mang tính thời sự, được cập nhật hóa qua nguồn thông tin đại chúng có tính liên hoàn, để mọi người có thể thẩm thấu một cách dể dàng, đôi khi không cần gạn lọc bởi vì nó sẽ tự hủy khi không còn thích hợp với hoàn cảnh thực tế.

       Tuy nhiên thi ca Bác Học hay Bình Dân phải tồn tại song hành và có bổ sung cho nhau để sống mãi với đời nếu được lưu truyền và phổ biến rộng rãi qua các thời đại dưới nhiều hình thức khác nhau. Thi ca bác học ý ẩn sâu và trở thành hệ tư tưởng; là hồn của chữ. Thi ca bình dân lý giải cái hồn ấy qua việc diễn nghĩa trong sáng, gần gủi và thân quen với từng hoàn cảnh qua các nghệ sĩ nhân gian chuyên nghiệp hoặc bất đắc dĩ như chúng ta từng biết dưới các hình thức: Người hát nói thời xưa và người hát thơ thời nay.

       Gọi là hát nói chính là Vè, ca dao, ca trù, nói lối… nghệ nhân chỉ cần nắm bắt thời sự và rao lên cho mạch lạc với sự hổ trợ của hai thanh tre nhỏ trong tay và khi dập vào nhau phát thành âm thanh để nhắc nhở cử tọa lắng nghe. Bất kỳ chỗ nào có đám đông là có thể trở thành nơi trình diễn, trong trà đình, tửu quán, giữa chỗ nhóm chợ đông người,  giữa mùa gặt,  hội đình làng…

       Hát thơ, tuy cũng là một hình thức truyền đạt thông tin nhưng lại mang tính cách diễn giải nhưng ưu tư riêng của tác giả về một phương diện nào đó, hàm ý chuyên chở tình cảm đến người nghe, cô đọng hơn, giới hạn hơn vì nó đòi hỏi người hát phải có tâm và người nghe phải có nhã hứng đón nhận. Khó thay và cũng dễ thay. Khó vì phải chọn lọc người nghe, phải có không gian và thời gian thích hợp. Dễ vì khi đã có hai điều trên thì tâm lý người hát và người nghe sẽ nhanh chóng cảm thông và sự biểu cảm sẽ là nhân tố làm cho thơ tồn tại.

       Phạm Tương Như tự nhận mình là người hát thơ không cần thông qua phổ nhạc, không cần phối âm, không cần ký âm pháp, không cần nhạc cụ trợ hứng. Vì anh quan niệm trong thơ vốn đã có nhạc và người làm thơ phải tạo được giai điệu trầm bổng cho thơ thì mới gọi là thơ. Anh luôn phản đối những thể thơ nghịch nhĩ chỉ vốn làm dáng cho thi ca tạo ra một hiện tượng như loài hoa lạ không hương sắc sớm nở tối tàn…

       Và Phạm Tương Như chỉ hát thơ của chính mình sáng tác vì vậy Anh có lợi thế là tự biết được nhịp đập của tim mình và anh gởi đến người đồng điệu qua chính tiếng hát của mình bằng tất cả đam mê.

       Vì vậy người viết mạo muội gọi Phạm Tương Như là người hát thơ từ những cánh đồng mây.

       Trong phạm vi một bài viết ngắn mang tính phác họa như lời dẫn nhập tôi thấy không cần thiết phải trích dẫn một câu thơ nào để làm bằng.Vì chính người đọc thơ Phạm Tương Như sẽ tự tìm thấy âm điệu trữ tình chan chứa trong thơ anh.

       Phạm Tương Như người tự hát thơ mình từ thời còn rất trẻ - Nhiệt huyết còn căng đầy lồng ngực khi anh thả hồn lang thang trên những cánh đồng mây.Với anh cánh đồng mây là bầu trời Tổ Quốc và thơ anh là nỗi niềm của một chiến binh đi mây về gió yêu vô cùng Tổ Quốc Không Gian. Vâng, Phạm Tương Như xuất thân là một Phi công của một thời đã xa.

       Bây giờ Cánh đồng mây Việt Nam còn đó nhưng Phạm Tương Như đã phải xếp cánh bay.

      Tuy nhiên anh không xếp thơ mình lại để giữ mùi hương vì thơ anh không chết và thơ anh vẫn nổi trôi theo dòng thế sự. Anh vẫn hát thơ, bất kỳ đâu bất kỳ lúc nào nếu có người đồng điệu.

       Vui thay đồng thanh tương ứng và bằng hữu anh vẫn đồng khí tương cầu.

       Còn người yêu quý và phát huy chữ nghĩa dưới mọi hình thức, thì còn người bảo tồn và trân trọng như vốn quý của dân tộc. Còn dân tộc thì còn tự tình, đó chính là nét đặc thù của Văn hóa Việt Nam mà văn chương là một phần trong đó.

       Như đã nói ở trên, văn chương từ ngàn xưa dù dưới hình thức nào: văn xuôi, văn vần, đóng thành quyển, in thành sách hay truyền khẩu đều có hai thuộc tính bác học và bình dân. Phạm Tương Như là người đi dây giữa hai đầu dây tưởng chừng đối nghịch ấy. Bác học là tư tưởng trong thơ anh và bình dân là cách phổ biến: hát thơ.

       Phạm Tương Như đã làm được điều mà ít người làm được.Nghĩa là ngoài thân phận lưu vong Anh vẫn luôn mang trong tim nhịp thở Việt Nam qua chính thơ anh và lời thơ anh hát. Cám ơn đất lành Nam bộ có Vĩnh Long ngát mùa mận chín, đã sản sinh ra những người con ưu tú mà Phạm Tương Như là một.

       Phạm Tương Như một thời bay giữa chiến tranh, nhưng lần hạnh ngộ đầu tiên thì dối diện tôi là một người nhỏ thó nhưng vững chải, anh bắt tay với dáng vẻ rụt rè như thiếu nữ tròn trăng hay e thẹn. Hoàn toàn khác với một người hát thơ tự tin và đầy đam mê luôn dành được sự ngưỡng mộ của bằng hữu và người nghe.

       Rất mong đôi lời dẫn nhập này sẽ là chiếc thuyền con chuyên chở quý đọc giả đến với Phạm Tương Như qua: Tình Thơ -Thơ hát ru đời, để tìm lại bóng dáng mình một thời đã mất.

Tuý Hà

 

 

Thơ Văn Bạn Hữu

Bài mới nhất

Who's Online

We have 120 guests and no members online

Visitor Counter