Không Muốn Tên Tôi Như Một Điệu Buồn

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

  

tùy bút phạm tương như

 

     1- Sáng thứ hai tôi ôm nỗi cô đơn bước vào trũng nắng. Chiếc lá rơi chao đảo ghim vào lòng tôi cảm giác lạc loài. Hàng cây lá non óng mượt nắng sớm tháng năm không đủ điểm trang, phủ lên tôi màu xanh trời biển và niềm hy vọng, trái lại, xô đẩy tôi thật sâu vào phần còn lại của đời sống vốn bám víu miền tương lai rất mong manh vô định. Quá khứ muốn quên đi vẫn chập chùng rừng núi, hằng đè nặng lên hồn tôi bóng lẻ, làm bầm tím những suy tư hệ lụy đời thường. Ngọn gió sớm không đủ mát và âm thanh cành lá lao xao thiếu sức quyến rũ để xoa dịu những dày vò thân phận, lại càng se sắt thổi qua vòm trời mênh mông làm trôi giạt một cánh chim đã mòn mỏi với thời gian. Không gian quanh tôi đang rơi rớt từng phút giây vô nghĩa.
      Hình như tôi thèm cái gì rất thân quen bị bỏ quên trong quá khứ, một quá khứ ngỡ xa từ tiền kiếp mà gần như mới hôm qua.  Ôi!  Những đường chim bay trên vùng đất quê hương. Những sân bay nắng sớm mưa chiều. Tôi nhớ cánh chim sắt lướt trên mặt phi đạo, tiếng máy làm kinh động một góc trời, xé gió vù bay vào khoảng không gian rải rác hoa mây, bốn động cơ bán phản lực chém gió tạo thành bốn vạt khói sương như những sợi dây diều ảo giác căng đứt, thả nổi trên nền trời trong vắt và tan loãng vào nắng gió vô tình. Những ban mai Sài-gòn hẹn ăn sáng Nha Trang hay cơm trưa Đà Nẵng, dạo phố Huế đêm cơm quán ngủ đò! Những cô gái mắt chứa đầy màu biển xanh, môi phượng hồng chín đỏ, tay áo còn thơm mùi mực, tóc cứ thả theo mây và tình yêu nồng nàn cảm xúc. 
       Có lẽ kỷ niệm thời quân ngũ đầy ắp những ngăn lòng, tâm thất luân lưu trùng trùng quá khứ, làm méo đi những trái đời vốn tròn trịa ngọt thơm, cũng làm bầu trời tha phương khác hẳn khung mây quê nhà.  Ngọn gió nhẹ, cơn mưa phùn hay ánh trăng lu đủ làm lòng tôi oà vỡ, chảy miết ngược dòng thời gian. Tôi nhớ quá một thời trai trẻ nhựa sống còn đầy, lý tưởng ngất cao, thường đối mặt với chiến trường buổi sáng, buổi trưa rồi vội quay lưng để buổi chiều bước tới tình yêu, đốt đêm bằng men say, nhạc điệu!
alt
Ba nhà văn Không Quân: Vĩnh Hiếu, Phạm Tương Như, Nguyễn Lập Đông
     2- Chiều thứ bảy qua thành phố Houston đang đợi vào hè, một tác phẩm ký sự chiến trường , “Trên Vòm Trời Lửa Đạn” viết bởi chàng phi công trực thăng võ trang Vĩnh Hiếu được ra mắt bạn bè trong quân chủng và thân hữu. Tôi để rơi hạt lệ khi đứng cùng ba bốn mươi chàng đồng môn phi công hát lên bài Quốc ca và Không quân hành khúc.  Mình hát Quốc ca rất thường xuyên trong mỗi lễ lộc đấy chứ, vậy mà cảm xúc cứ vỡ tim, chảy thành hàng nước mắt không kìm giữ được! Tôi nhớ mỗi thứ hai đầu tháng vận áo bay đen khăn quàng xanh hát quốc ca làm lễ thượng kỳ nơi Kỳ đài Sư đoàn ở Tân Sơn Nhất trong tiếng máy vang dội của phi cơ cất cánh từ hai phi đạo 25R và 25L. Bài hát dù thân quen nhưng sân khấu cuộc đời đã đổi… Thời gian không bào mòn những sắt son, không bẻ gãy ý chí kiêu hùng và tình tự dân tộc nhưng rõ ràng đã gây thương tích cho thân xác vô thường của con người. Nhà thơ Phượng Ly, một Phi đoàn trưởng F-5 siêu thanh dù đôi mắt vẫn sáng ngời sức sống phải đứng hát cùng đàn em với thêm chân gậy. Mới ngày nào tất cả chúng tôi khoác áo bay đủ màu, đầu đội nón bay, tim bọc sắt, vươn đôi cánh thép, xé mây bay vào lửa đạn , còn“từng đoàn người vượt qua biên giới quyết chiến thắng…  Đi không ai tìm xác rơi…” mà nay chỉ còn muối tiêu hay mây trắng đội đầu!  Gần bốn mươi năm qua những mùa trăn trở về một dân tộc vốn hãnh diện có hơn bốn ngàn năm lịch sử oai hùng,  đã máu sông xương núi mở nước và giữ nước. Vậy mà có kẻ tự cho mình là “Cha già dân tộc”, đã trồng người vong bản, hủy hoại nhân sinh, chôn xác hòa bình vào hố sâu bất công nghèo đói, biến những ruộng lúa thành cỏ rác tệ đoan, phố thị có nhiều con đường tội lỗi để mưu sinh. Những suy tư như vậy hiện rõ trong từng nếp nhăn trên gương mặt kẻ ly hương còn khăng khăng  hướng về đất Mẹ.
         Có thể vì tôi là lính cũ, nhưng chắc trên hết, là người Việt Nam tình nguyện tham chiến nên mê ký sự chiến trường, thường thức trắng để trở về trận địa và bao giờ cũng thức luôn sau khi đếm xác, gọi tên những anh em, bạn bè cùng xóm, cùng trường và đồng khóa, chung đơn vị… để phân vân về giá trị ở lại chiến trường của anh ruột tôi, của Bác tôi với bốn người con, hai trai hai gái mà sự trở về cùng ngày của hai anh con trai trong “hòm gỗ cài hoa”, non một năm sau, một chàng rể cũng bỏ đời như vậy.  Bác tôi còn lại hai con dâu, hai con gái, thằng rể bị thương, mười đứa cháu nội ngoại và một lý lịch ”phản động” còng tay vào trường “Đại học máu” của phe chiến thắng.  Nhóm bạn học chung trường, chung nhà trọ, từng ăn chung ngủ cùng vui cực có nhau, cùng bỏ trường bước vào cuộc chiến của tôi gồm bảy đứa, vậy mà sau hơn hai năm ra nước ngoài học bay trở về… những Do, Tâm, Lập, Hà đã bị những mảnh đồng vô tình ghim vào yếu huyệt, không trúng vai áo trận còn mang lon chuẩn úy hay thiếu úy đặc cách của người trung đội trưởng bộ binh. Ngày họp khóa bay Keesler của tôi, trong lễ truy điệuxướng danh, có đến một phần ba trong tổng số phi công còn ở lại khắp 4 vùng chiến thuật, đã bốn mươi năm chưa đuổi kịp chuyến tàu về! ”Pleiku trong tim người lính cũ. Có những thằng bay chẳng thể về. Mới biết yêu đương, lỗi hẹn thề”. Tháng mười hai vừa qua, tôi theo anh em Văn Bút Nam Hoa Kỳ sang San Jose dự Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, gặp lại Thiếu tá KQ Hai “còi” trong buổi tiệc ra mắt truyền thông báo chí, tôi nhớ ngay đến Độ, bạn cùng khóa nên hỏi nửa đùa “Sao anh dẫn Wingman vào lửa đạn Trường Sơn mà không đem nó về ?”  Câu nói tưởng nhạt nhòa với thời gian mà chúng tôi lại khóc ngon lành, thiệt  “yếu xìu” trước mặt mấy phu nhân!  Không biết những nàng vợ lính sống suốt đời với chồng có biết tim lòng họ đầy thương tích?
     3- Hai giờ chiều ngày Chúa Nhật,  ngay hôm sau,  Văn Bút Nam Hoa kỳ tổ chức họp mặt phát hành tạp chí Tin Văn số mới với chủ đề  30 tháng 4 một ngày nhìn lại”. Không biết sao trời bắt chúng ta có tháng 4 mỗi năm?  Sao không nhuần, có hai tháng 3 rồi qua tháng 5 luôn! “Thiên hạ một năm có mười hai tháng. Ta bốn mùa chỉ một tháng tư đen”! Những bài ca, bài thơ của một thời khổ lụy, bẫy rập giăng bắt loài người xen kẽ những bài thơ diễn ngâm, bài hát “Cục Chính Huấn” đầy lửa dậy, ngất tình đồng bào, dào dạt nghĩa tình quê hương, xúc cảm của tôi cũng theo con thoi trong qu đạo hùng buồn. Những tù ca, thơ tù như những cọc nhọn, kẽm gai trói tôi vào  quá khứ cận đại nhiều đau thương tang tóc, cửa nát nhà tan, dân tình khốn khổ! Bài tù ca Vũ Khoa hát, tôi đã nghe nhiều lần sao vẫn làm da tôi sần sùi gai góc?!
         Diễn giả chính của buổi chiều họp mặt là “Người tù cải tạo” Nguyễn Mạnh An Dân, anh  hát, đọc những đoạn nhạc, bài thơ của chính những người bạn tù, của chính anh và cả những người thân thương nơi nhà tù lớn tìm tới thăm người tù cải tạo bằng chất giọng lúc trầm buồn, có khi đanh thép, lên bổng xuống trầm theo vận mệnh của người trong cuộc. Bài hát từng vượt rào kẽm gai. Câu thơ làm mềm còng xích sắt. Tôi bị anh “trời trồng” chôn chân mọc rễ cảm xúc theo nhịp bi hùng để hiểu rằng đau khổ có thể giết một đời người, cũng có thể tôi luyện ý chí người đó trở nên cứng cỏi, không còn ngại núi e sông! Ông chủ tâm hồn có thể sai bảo anh thợ thể xác theo hảo ý của mình. Cây rụng lá để đâm chồi xanh lá mới. Thuyền vượt trùng dương để tới một bến bờ. Hạt mạ vùi bùn thành bông lúa ngày mai. Nụ búp nứt cành để ra hoa kết trái. Và tôi phải xứng là một con người! Đồng bào của dân nước tôi!
     4- Trong điện thư hồi âm lời kêu gọi nộp bài cho Tạp chí Tin Văn số mùa hè, nhà văn Phạm Ngũ Yên gõ phím… ”không còn viết lách gì được nữa. Bài viết cho Phạm Tương Như là cuối cùng cho bạn bè…” Dòng thư ngắn làm tôi hốt hoảng và vài anh trong Văn Bút gọi hỏi tôi có chuyện gì không?  Điều đầu tiên làm tôi sợ là sức khoẻ của nhà văn mà tôi rất mến mộ. Tôi rất mừng khi biết anh vẫn mạnh khoẻ lại còn yêu đời đưa bạn gái về Houston chơi với bạn bè. Hình ảnh Nguyễn Bạch Dương (Lê thị Tư) trong lần cuối gặp nhau năm 2006 vẫn ám khói lòng tôi. Tháng mười một rồi ở Sài gòn, nhà văn Ngô Nguyên Nghiễm rủ tôi đi thăm thần tượng Trần Tuấn Kiệt của tôi. Không hiểu sao hình ảnh tiều tụy của họ như vết chém từ lưỡi gươm cùn cứa vào vết thương lòng tôi bưng mủ. Điều thứ hai băng ngang trí tôi là câu nhắc lại mà anh An Dân thường nói về Tạp chí Làng Văn, “đc giả cũ không còn; đc giả mới không có”! Chỉ mười chữ đủ đưa tang một tạp chí tầm cỡ sao? Tin Văn còn sao nhà văn gác bút? Điều thứ ba cứa ruột tôi là tên Phạm Tương Như được ân huệ sau cùng dưới ngòi bút “văn như thơ nhạc” của PNY mà tôi lại “không muốn tên tôi như một điệu buồn”! Tôi cũng tự hỏi Phạm Ngũ Yên bỏ viết lách thì những nắng gió thường nhật muốn về đường Heatherglen, Austin biết hướng nào và còn ai gọi để trở về? Austin có còn ai si tình làm rầu ghế đá công viên? Những quán ăn, tiệm cà phê ngon đâu còn những hồn lá để tỉ tê với gió?  Bông nở cũng bằng thừa vì đâu biết màu nào để khoe sắc, khoe duyên cho đúng mùa đúng tiết! Nước sẽ quên trong và lá cũng quên mùa để rụng. Rồi nước sẽ đưa ai và về đâu khi mục đích không còn? Lũ ve mùa Hè cũng khảy sai cung lạc điệu vì môi phượng đã quên mùa son phấn. Những mùa tình xưa ở Bảo Lộc, Đà Lạt, Sài-Gòn và Vũng Tàu cũng sẽ khô đi như màu mực khi xa ngòi bút. Những con chữ nằm co, chết khô vô hồn và trang giấy trắng cũng thành vô dụng.
     Có con chim nào ngờ nghệch bị sập bẫy thời gian? Con chim thằng chài mặc áo xanh đậu trên cành khô bói cá còn ưu tư khi cách một mặt hồ? Có tâm hồn nào rách nát như lá khô? Như điếu thuốc tàn? Như mặt nước trong không còn ai soi mặt, cây không biết bóng để tự soi mình….. Tôi có cả ngàn lý do cần nhà văn “hãy nói giùm tôi”. Những bức tường dựng đứng cần tấm lòng mở cửa. Những trang giấy cần chữ để có hồn.… nên Phạm Ngũ Yên ơi! “hãy cho nhau một chút, tình thâm bạn văn chương, văn thơ là lưu bút, một đời để mến thương”
      Cám ơn nhà văn viết bạt cho tập thơ “Vết Trăng Trên Cỏ”sắp in của tôi. Mong bài Bạt không là bài viết cuối vì “văn thơ là tình yêu thổi gió ru đời. Làm run rẩy cỏ hoa trên ngực nắng” và cho tôi được phép  KHÔNG MUỐN TÊN TÔI NHƯ MỘT ĐIỆU BUỒN!!!
alt
 Góc trái Chủ Tịch Nguyễn Mạnh An Dân, góc phải Tổng thư ký Túy Hà, giữa thủ quỹ PTN
Vĩnh Tuấn (cựu pct#1/ VBVNHN)
Phạm Tương Như
 
Category: Văn

Bài mới nhất

Who's Online

We have 58 guests and no members online

Visitor Counter